Thứ Hai, 9 tháng 6, 2014

Tìm hiểu về viêm loét dạ dày và ung thư thư dạ dày

Tìm hiểu về viêm loét dạ dày và ung thư thư dạ dày
1.       Ung thư dạ dày:
Ung thư dạ dày (bao tử) thường gặp, ở nam giới chỉ sau các ung thư gan và phổi, ở phụ nữ hàng thứ tư. Bệnh âm thầm nên biết trễ và trị khó. Ít ai ngờ bệnh dữ lại có thể phòng tránh được.

Dạ dày là cái túi rỗng, một khối nhỏ thường chẳng gây xáo trộn gì. Bệnh “câm nín” rất lâu, khi “lên tiếng” thì xấu rồi. Ban đầu mập mờ, chỉ có cảm giác ăn không tiêu. Bệnh nhiều mới gây ra cơn đau vùng bụng trên, khó tiêu dai dẳng và không thèm ăn. Trễ hơn có ói mửa, tiêu phân đen, sút cân mau lẹ.
Có người không tin bác sĩ nói có bệnh, để 6 tháng hoặc cả năm bệnh trổ rõ mới đi trị, uổng lắm! Chẳng thế, tính ra cứ mỗi 5 người bệnh thì có 4 người khi phát hiện, bệnh đã trở thành khó trị.
Người trên 40 tuổi ăn không tiêu dai dẳng, nên hỏi bác sĩ có cần soi dạ dày không. Thầy thuốc đưa ống soi mềm qua họng xuống đến dạ dày, thấy gì nghi ngờ thì chụp hình và làm sinh thiết. Ống soi mềm mại, thao tác của bác sĩ nhẹ nhàng. Vậy nên đừng vì sợ nội soi màmất đi cơ hội phát hiện sớm.
Chụp hình dạ dày cũng thông dụng. Uống một chất gọi là barýt rồi chụp nhiều phim X-quang lấy hình của dạ dày và tá tràng. Bác sĩ đọc phim có thể thấy được các điều bất thường.
Việc lựa chọn điều trị tùy thuộc bệnh ở giai đoạn nào, tổng trạng và ý muốn của người bệnh. Bác sĩ chia ra hai nhóm mổ cắt được và không cắt được.
Nếu ung thư còn nhỏ, bác sĩ cắt dạ dày bán phần, nhằm lấy phần dạ dày mang ung thư và bảo đảm lằn mức an toàn mô lành, phần còn lại của dạ dày đem nối với ruột non để thức ăn vẫn lưu thông được.
Nếu cần thì nạo các hạch lymphô. Cắt toàn phần là lấy trọn dạ dày và có thể lấy thêm cơ quan ở gần (lá lách chẳng hạn) khi ung thư ăn lan quá nhiều hoặc nằm ở phần trên (tâm vị) của dạ dày.
Phải đem thực quản nối với ruột non. Xạ trị dùng chùm tia phóng xạ giết các tế bào ung thư. Xạ trị trước mổ làm xọp khối bướu để dễ mổ cắt đi. Xạ trị sau mổ nhằm tiêu diệt các tế bào ung thư còn sót.
Hóa trị dùng thuốc luân lưu khắp cơ thể giết các tế bào ung thư đã lan ra ngoài dạ dày, cũng dùng cho di căn xa hoặc làm bớt các triệu chứng thời kỳ trễ. Có thể kết hợp hóa và xạ trị. Với loại lymphôm dạ dày, hóa trị thường có hiệu quả.  Và trong số những trường hợp mổ được, có khoảng 40% trị tốt.
Nhiều người không ngờ ung thư sát thủ này lại do con vi khuẩn gọi là Helicobacter pylori ở trong dạ dày, liên thủ với chế độ ăn mặn và khói thuốc lá. Do đó, ung thư này khó trị nhưng lại có thể phòng tránh.
Thấy có triệu chứng như viêm loét dạ dày nên xin bác sĩ tư vấn soi dạ dày và xét nghiệm vi khuẩn H. pylori để có xử lý thích hợp. Nên ăn nhiều rau trái củ tươi. Tránh chế độ ăn mặn (cá khô mắm, mắm tôm, rau cải làm dưa, cà pháo, kim chi...). Tránh xa khói thuốc lá. Uống rượu ít thôi.
2.       Viêm loét dạ dày: Nhiều biến chứng khó lường
Viêm loét dạ dày ngày càng gia tăng nhanh và có xu hướng trẻ hóa ở nước ta. Bệnh tuy không đe dọa đến tính mạng nhưng ảnh hưởng lớn đến cuộc sống hàng ngày. Đặc biệt, nếu không được chữa trị kịp thời sẽ gây nhiều biến chứng nguy hiểm.
10 tuổi đã thủng dạ dày
Tại khoa Phẫu thuật trẻ em - BV Việt Đức, những năm gần đây số trẻ được phẫu thuật dạ dày ngày càng tăng, trung bình 5-7 ca/tháng. Như trường hợp bệnh nhi Nguyễn Thành N., 10 tuổi (ở Hưng Yên) được đưa vào cấp cứu trong tình trạng đau đột ngột, vật vã, nôn ra máu... Kết quả thăm khám khẳng định bé bị thủng dạ dày do viêm loét. Rất may N. được mổ cấp cứu kịp thời nên tránh nguy hiểm tới tính mạng
Đáng chú ý, nếu như đau dạ dày trước kia chỉ gặp ở người lớn thì ngày nay, số trẻ em mắc bệnh cũng chiếm tỷ lệ đáng kể do học tập căng thẳng, thức khuya, ăn uống không điều độ
Nguy hiểm hơn, đa phần trẻ viêm loét dạ dày nhập viện trong tình trạng muộn do viêm loét dạ dày ở trẻ em tiến triển rất nhanh. Bệnh nếu không được điều trị sẽ khiến trẻ bị suy dinh dưỡng, xuất huyết tiêu hóa, thủng dạ dày, đặc biệt là biến chứng gây hẹp môn vị.
Viêm loét dạ dày – nhiều biến chứng khó lường
Viêm loét dạ dày không chỉ ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống mà còn gây ra nhiều biến chứng như xuất huyết tiêu hóa, thủng dạ dày, hẹp môn vị.
Các biến chứng này nếu không được điều trị kịp thời có thể nguy hiểm đến tính mạng và không điều trị triệt để dễ dẫn đến ung thư dạ dày, một dạng ung thư thường gặp, chiếm vị trí hàng đầu trong các ung thư đường tiêu hóa.
Đau dạ dày rất dễ dẫn đến nhiều biến chứng khó lường, nguy hiểm nhất là ung thư dạ dày
Cắt cơn đau dạ dày không khó nhưng nếu chỉ dùng thuốc trị triệu chứng mà quên bảo vệ niêm mạc dạ dày, hạn chế bội nhiễm H.Pylori, thay đổi chế độ ăn uống sinh hoạt của người bệnh thì viêm loét dạ dày rất dễ tái phát. Vì vậy, đau dạ dày tuy không phải nan y nhưng rất khó để chữa khỏi.


Hút thuốc lá có nguy cơ gây ung thư tủy xương

Hút thuốc lá có nguy cơ gây ung thư tủy xương

  
Hút thuốc lá gây nguy cơ ung thư tủy xương cao - Sức Khỏe - Chăm sóc sức khỏe - Kiến thức y học - Sức khỏe gia đình

Các nhà khoa học làm việc tại phân viện nghiên cứu ung thư của viện dịch tễ học Anh quốc ở đại học Oxford dựa trên dữ liệu thu thập từ 1,3 triệu phụ nữ trung niên tham gia khảo sát đã đi đến kết luận trên.
 Theo kết quả từ cuộc nghiên cứu có tổng số 9.000 phụ nữ mắc phải bệnh tăng bạch cầu trong máu, bệnh ung thư hệ thống miễn dịch hay ung thư tủy xương trong một cuộc khảo sát được tiến hành trong thời gian mười năm.

 Trung bình có 8 người trong số 1000 người hút thuốc lá đã mắc phải một trong các căn bệnh ung thư kể trên so với 6 người mắc bệnh trong số 1000 người không hút thuốc.
Các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy rằng những phụ nữ hút khoảng 20 điếu thuốc mỗi ngày có nguy cơ cao gấp đôi mắc phải bệnh u lymphoma dạng Hodgkin’s và một số chứng bệnh ung thư tủy xương khác.
 GS. Valerie Beral, người mà các phát hiện y học được đăng tải trên tạp chí chuyên đề ung thư Anh quốc phát biểu: “Những kết quả từ cuộc nghiên cứu này một lần nữa khẳng định rằng hút thuốc là một nguyên nhân quan trọng của bệnh ung thư. Hút thuốc làm tăng nguy cơ mắc phải nhiều loại ung thư, không chỉ là bệnh ung thư phổi. Ngoài ra hút thuốc còn làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch và đột quị. Đây chính là vấn đề mà nhiều người còn chưa nhận thức được đầy đủ”.


 Sara Hiom, Giám đốc phụ trách thông tin truyền thông của Viện Nghiên cứu ung thư Anh quốc cho rằng bỏ thuốc lá không bao giờ là việc làm quá trễ và khuyến cáo mọi người nên tìm lời khuyên từ bác sĩ của mình cũng như từ các tổ chức y tế ở địa phương nơi họ cư trú.

Hội chứng chèn ép tủy sống thường gặp trong ung thư
Hội chứng chèn ép tủy sống là một tai biến thường gặp trong ung thư, gây đau đớn và có thể gây mất chức năng thần kinh không phục hồi được.
Khi có tổn thương nguyên phát di căn đến cột sống gây chèn ép tủy sẽ gây ra hội chứng này. Ở người lớn, phần cuối cùng của tủy sống tương đương mức đốt sống thắt lưng 1, dưới mức này là đám rối thần kinh thắt lưng cùng tạo nên tổ chức đuôi ngựa trôi nổi trong dịch não tủy.

Nếu các tổn thương đốt sống, tủy sống phần trên mức thắt lưng 1 thì nguy cơ tổn thương gây chèn ép tủy sẽ cao hơn. Các ung thư thường gặp như di căn cột sống là ung thư tiền liệt tuyến, ung thư vú, phổi, thận, ulympho không hodgkin, đa u tủy xương...
Triệu chứng như đau lưng có tính chất lan tỏa tại vùng đốt sống bị tổn thương chiếm 90% các trường hợp, yếu cơ có thể do bệnh nhân cảm nhận, hoặc do thăm khám phát hiện của thầy thuốc chiếm 75%.
Tình trạng yếu cơ nhanh cần phải phối hợp với bác sĩ ngoại khoa thần kinh, các nhà xạ trị để có biện pháp điều trị gấp, tránh các tổn thương thần kinh không phục hồi. Một số tổn thương tủy sống đoạn thấp có thể gây rối loạn cơ tròn bàng quang, trực tràng gây bí đái, bí ỉa. Rối loạn cảm giác, dị cảm, mất cảm giác cũng thường gặp.


Chụp cộng hưởng từ (MRI) là phương pháp chẩn đoán hiệu quả nhất, CT cũng có giá trị cao, xạ hình xương chỉ có giá trị xác định có tổn thương đốt sống, không phát hiện được tủy sống bị ảnh hưởng.

Thứ Bảy, 7 tháng 6, 2014

Ung thư da – Những điều cần biết về bệnh ung thư da

Ung thư da – Những điều cần biết về bệnh ung thư da
Ung thư da
Ung thư da là một trong những ung thư thường gặp, dễ chẩn đoán, điều trị đạt kết quả tốt nếu như được phát hiện sớm.
Ung thư da là một trong những ung thư thường gặp, dễ chẩn đoán, điều trị đạt kết quả tốt nếu như được phát hiện sớm.

1.     Chức năng của da
Da bao phủ mặt ngoài của cơ thể, bảo vệ các thành phần bên trong chống lại các tác nhân có hại từ bên ngoài thâm nhập vào, ví dụ : ánh sách mặt trời. Các tế bào trên mặt da (tế bào sừng) luôn luôn bị cọ sát và được thay thế bằng các tế bào mới.
Các tế bào melanocytes sinh ra sắc tố tối màu (melanin), nhiệm vụ của sắc tố này là bảo vệ da khi tiếp xúc với ánh sáng mặt trời.
Ở người da trắng các tế bào melanocytes không sản xuất được nhiều sắc tố melanin như người da màu.
2.     Bệnh sinh
Hầu hết ung thư da phát sinh do bị ảnh hưởng kéo dài tác dụng tia cực tím của ánh nắng mặt trời. Các tia cực tím xuyên qua da và làm tổn thương các tế bào sống, lúc đầu làm cho da rám nắng, nếu như tiếp tục bị phơi dưới ánh nắng mặt trời quá mức, tia cực tím sẽ gây nguy hiểm cho da và làm cho bạn già trước tuổi.
Một số ung thư da được phát hiện từ các nguyên nhân khác như : tia bức xạ ion hóa, các sản phẩm của nhựa than đá, thạch tín ...
3.     Bệnh học
Ung thư biểu mô tế bào đáy : hay gặp ở những vùng da hở, tiếp xúc với ánh sáng mặt trời. Là loại ung thư dễ chữa nhất tỉ lệ khỏi bệnh gần 100%.
Ung thư biểu mô gai sừng hóa : hay phát triển từ sẹo bỏng, hoặc vết loét lâu ngày, là loại hay di căn hạch, có thể gây tỉ lệ tử vong cao, nếu không được phát hiện, chẩn đoán sớm và điều trị hợp lý.
Ung thư hắc tố : là loại thứ 3 của ung thư da, thường khởi đầu từ một nốt ruồi lành, tàn nhang hoặc một đám sắc tố bẩm sinh (bớt) nhưng cũng có thể phát triển ở chỗ da bình thường ... đây là loại ung thư của da, hay di căn tới các bộ phận khác của cơ thể.
Các loại ung thư xuất phát từ các tuyế dưới da như ung thư biểu mô tuyến mồ hôi hay tuyến bã.
4.     Yếu tố nguy cơ của ung thư da
Tất cả những người mà da của họ không thường xuyên được bảo vệ khi tiếp xúc với ánh nắng mặt trời.
Những người da trắng dễ có nguy cơ bị ung thư da hơn những người da mầu.
Những người làm việc ngoài trời như nông dân, thủy thủ, người làm đường
Những người bị bệnh khô da nhiễm sắc, thiếu khả năng phòng ngừa tác hại của tia tử ngoại, có tính chất di truyền có nguy cơ cao hoặc những người bị bạch biến do rối loạn chức năng sinh sản hắc tố.
Những người có vết sẹo bỏng cũ lâu ngày do xăng, vôi hoặc các sẹo do vật gây cháy khác. Những người có vết loét hoặc ổ viêm nhiễm lâu ngày.
5.     Các dấu hiệu và triệu chứng của ung thư da
Vết loét dai dẳng thỉnh thoảng lại chảy máu hoặc có thể khỏi trong từng thời kì.
Những thay đổi tại một vùng da bị sừng hóa do ảnh hưởng của ánh nắng mặt trời như chảy máu, loét, cục nhỏ ...
Loét hay nổi cục tại vùng da đã được tia xạ từ trước hoặc tại một vết sẹo hay một đường dò.
Một vết đốm đỏ nhạt mạn tính với sự xước trợt nhẹ.
Với ung thư hắc tố các dấu hiệu cần được chú ý:
Thay đổi về màu sắc : hầu hết các ung thư hắc tố có màu sắc không đồng đều với những sắc thái khác nhau của màu nâu, đen, đỏ, trắng, xanh. Những nốt ruồi đang chuyển màu là những tổn thương đặc biệt nghi ngờ.
Ở người trưởng thành : một nốt ruồi phát triển to nhanh. Trong vài ngày hoặc vài tuần.
Thay đổi về bề mặt của nốt ruồi : từ nhẵn trở nên gồ ghề, có vẩy, hoặc loét.
Thay đổi về ranh giới : Nốt ruồi lành có ranh giới rõ, thấy nghi ngờ khi xung quanh có hình răng cưa, vết khía hoặc phát triển không đều về một phía.
Các nốt ruồi có cảm giác ngứa : ngứa, chảy máu, hoặc chảy nước vàng.
Thay đổi về độ dày của tổn thương, không đồng đều ở mọi điểm, đặc biệt quan trọng là sự thay đổi về độ dày không đối xứng.
6.     Chẩn đoán ung thư da
Nếu có dấu hiệu nghi ngờ ung thư da xin mời bạn tới các cơ sở y tế để khám bệnh. Thầy thuốc sẽ khám kĩ càng tổn thương của bạn dưới ánh sáng tốt, có kính lúp càng tốt hơn. Nếu có nghi ngờ tùy từng trường hợp sẽ giải quyết cho phù hợp theo chẩn đoán.
7.     Điều trị ung thư da
Phẫu thuật cắt bỏ rộng tổn thương là phương châm quan trọng nhất, phụ thuộc vào kích thước của tổn thương và vị trí của nó trên cơ thể.
Với các thương tổn nghi ngờ nhỏ tốt nhất nên cắt bỏ rộng để điều trị và chẩn đoán xác định.
Các thương tổn rộng tùy theo từng hoàn cảnh cụ thể có biện pháp điều trị phù hợp.
Với các thương tổn của ung thư hắc tố hoặc nghi ngờ là hắc tố nên được giải quyết ở cơ sở chuyên khoa để điều trị triệt để. Không được tẩy bỏ nốt ruồi bằng các phương pháp không chính thống như : bằng hóa chất, hoặc đốt bằng các vật nóng như thuốc lá hoặc thanh sắt nung nóng ... điều đó sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng của bạn.
8.     Phòng bệnh ung thư da
Bạn bảo vệ da của mình như thế nào?
Mặc áo nhiều màu hoặc màu tối bằng các chất liệu tự nhiên, sẽ bảo vệ da bạn được tốt hơn là áo màu sáng bằng chất liệu nhân tạo.
Khi làm việc ngoài trời cần sử dụng nón, mũ hoặc màn che nắng, cần sử dụng mũ nón rộng vành để che được cả đầu, mặt, cổ ... hoặc tận dụng bóng râm của cây cối ...
Khi làm việc có tiếp xúc với hóa chất, phóng xạ cần phải có biện pháp bảo vệ, như đi găng, đi ủng, quần áo bảo hộ, kính, mặt nạ ...
Hạn chế làm việc ngoài trời nắng từ 10 giờ sáng tới 2 giờ chiều.
Thường xuyên vệ sinh da sạch sẽ, tránh và điều trị kịp thời các triệu chứng viêm nhiễm trên da.
Với con cái bạn bảo vệ da của chúng như thế nào?
Bạn có biết không? Da của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ rất nhạy cảm với ánh nắng mặt trời so với người lớn, da thường trở nên rám nắng sau vài phút tiếp xúc.
Khi da trẻ trở nên rám nắng thì khó đề phòng phát triển của ung thư da khi thành người lớn. Trong thực tế một đứa trẻ bị phơi nắng quá nhiều khi trưởng thành dễ bị ung thư da.
Vào buổi trưa (10 giờ sáng-14 giờ chiều) cố gắng giữ cho trẻ không tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng mặt trời, nên chọn chỗ cho trẻ ở dưới bóng cây, nếu phải ra ngoài phải dùng các biện pháp bảo vệ như : ô, mũ, nón ...
Khi trẻ lớn, nên cho trẻ tiếp xúc với "ánh nắng an toàn" để trở thành một thói quen hàng ngày của chúng sau này.
Hãy tập cho chúng cách bảo vệ da như bạn đã làm theo chỉ dẫn.
Cần nhắc lại với các bạn rằng:
Bất kì một tổn thương nghi ngờ ở da bạn hoặc của người thân nên tới vàkhuyên người thân tới các cơ sở y tế để khám.
Mọi phát hiện và chẩn đoán sớm đều tốt cho bạn trong việc điều trị triệt để. Ung thư da có thể phòng ngừa được và dễ phát hiện sớm.

Đừng phung phí cuộc sống vì căn bệnh có thể chữa khỏi này.

Thứ Sáu, 6 tháng 6, 2014

Ung thư cổ tử cung – Căn bệnh nguy hiểm nhưng có thể phòng ngừa?



Ung thư cổ tử cung – Căn bệnh nguy hiểm nhưng có thể phòng ngừa?


Phòng bệnh ung thư cổ tử cung, phong benh ung thu co tu cung

Ung thư cổ tử cung (UTCTC) là một trong những bệnh ung thư phụ khoa thường gặp ở phụ nữ trong độ tuổi 35 trở lên. Trên thế giới, cứ 2 phút lại có một phụ nữ chết do UTCTC. Tại Việt Nam, ước tính cứ 100.000 phụ nữ thì có 20 trường hợp mắc bệnh UTCTC và 11 trường hợp tử vong. Một số lý do dẫn đến tỉ lệ mắc bệnh UTCTC cao bao gồm số phụ nữ tham gia khám phụ khoa định kỳ để được tầm soát ung thư còn thấp, các chương trình tầm soát cũng chưa được bao phủ rộng, ý thức phòng bệnh ung thư cổ tử cung ở phụ nữ còn hạn chế do thiếu những chương trình tuyên truyền giáo dục.


Trên toàn thế giới, hàng năm có khoảng 530.232 trường hợp mắc mới ung thư cổ tử cung được chẩn đoán, chiếm 8.8% các trường hợp ung thư ở phụ nữ, và khoảng 275.008 phụ nữ (51.9%) chết vì ung thư cổ tử cung [1]. Tại Việt Nam, hàng năm có khoảng trên 5.000 trường hợp mắc mới và trên 2.000 trường hợp tử vong do ung thư cổ tử cung [2].
Ung thư cổ tử cung có thể xảy ra với bất kỳ ai và đặc biệt, bệnh thường gặp ở phụ nữ ở 35 – 40 tuổi trở đi. Tại Việt Nam, ung thư cổ tử cung là ung thư thường gặp nhất ở phụ nữ lứa tuổi 15 – 44 [2]. Đây là giai đoạn cực kỳ quan trọng trong cuộc đời của một người phụ nữ với nhiều thiên chức lớn lao: làm vợ, làm mẹ, là người chăm sóc gia đình và hơn thế nữa, ở độ tuổi này phụ nữ cũng đồng thời đã tạo dựng được sự nghiệp của mình.


Nhiễm virus Human papillomavirus (HPV) được xác định là nguyên nhân cần thiết gây UTCTC. Một số yếu tố được xem là tăng nguy cơ nhiễm HPV và phát triển UTCTC như phụ nữ có quan hệ tình dục sớm (trước 18 tuổi) hoặc quan hệ với nhiều người; dùng thuốc tránh thai kéo dài; sinh đẻ nhiều (từ trên 4 lần); hút thuốc lá; tình trạng suy giảm miễn dịch như nhiễm HIV, mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, đặc biệt là viêm sinh dục do nhiễm Trichomonas, Chlamydia trachomatis, Herpes simplex virus type 2 (HSV2)…
ung thư cổ tử cung không xảy ra đột ngột mà âm thầm trải qua các giai đoạn từ lúc nhiễm HPV, gây nên những biến đổi bất thường ở tế bào cổ tử cung, các tổn thương tiền ung thư rồi đến ung thư, kéo dài trung bình từ 10 – 15 năm. Đặc biệt giai đoạn tiền ung thư hầu như không có triệu chứng gì, do đó chị em không thể nhận biết mình mắc bệnh nếu không đi khám phụ khoa. Khi đã ở những giai đoạn muộn, bệnh nhân có thể có những biểu hiện như ra huyết trắng có mùi hôi, có lẫn máu, chảy máu âm đạo sau giao hợp hoặc sau khi làm việc nặng dù không đang ở chu kỳ kinh nguyệt. Nặng hơn có thể chảy dịch có lẫn máu ở âm đạo, kèm theo đau bụng, lưng, vùng chậu và chân. Nếu chị em thấy mình có bất kỳ dấu hiệu nào kể trên thì hãy đến gặp bác sĩ ngay. Không nên coi thường và bỏ qua những triệu chứng này. Khi các triệu chứng bị bỏ qua thì ung thư sẽ có thời gian để tiến triển đến những giai đoạn muộn hơn và việc điều trị sẽ càng khó khăn.


Với những tiến bộ của y khoa hiện đại, căn bệnh này có thể được chữa khỏi nếu bệnh được phát hiện sớm. Tuy nhiên ở giai đoạn muộn UTCTC lại rất khó chữa. Kể từ khi xét nghiệm sàng lọc ung thư cổ tử cung (xét nghiệm tế bào học cổ tử cung hay còn gọi là xét nghiệm Pap) ra đời và ứng dụng rộng rãi trong cộng đồng thì tỷ lệ ung thư cổ tử cung đã giảm một cách đáng kể [3].
Nhằm nâng cao chất lượng chẩn đoán tại cơ sở chuyên khoa tuyến cuối và cập nhật ứng dụng công nghệ mới, kể từ tháng 7 năm 2012, Bệnh viện Từ Dũ chính thức đưa xét nghiệm phát hiện sớm ung thư CTC ThinPrep Pap Test vào phục vụ chẩn đoán và điều trị UTCTC tại bệnh viện.
thinPrep Pap Test được Cơ quan Quản lý thuốc và Thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) chấp thuận đưa vào sử dụng từ tháng 05/1996. Phương pháp này hiện đang được sử dụng phổ biến tại Mỹ, Châu Âu cũng như các nước trong khu vực. ThinPrep Pap Test là bước cải tiến kỹ thuật của phương pháp Pap smear truyền thống, thông qua công nghệ chuyển tế bào có kiểm soát bằng màng lọc giúp làm tăng độ nhạy và độ đặc hiệu trong việc phát hiện các tế bào tiền ung thư, đặc biệt là ung thư tế bào biểu mô tuyến, một loại tế bào ung thư rất khó phát hiện.
Tại Việt Nam, ThinPrep Pap Tets cũng đã được triển khai rộng khắp các bệnh viện trong cả nước như: Bệnh viện Phụ Sản TW, bệnh viện Từ Dũ, bệnh viện Hùng Vương, Phụ sản Hà Nội, K, ung bướu Hồ Chí Minh, phụ sản Hải Phòng…
Các nghiên cứu lâm sàng trên thế giới cũng như tại Việt Nam đã chỉ ra rằng ThinPrep Pap Test tăng tỷ lệ phát hiện bệnh không chỉ ở chỗ cải thiện việc lấy mẫu bệnh phẩm mà còn do loại bớt các thành phần gây nhiễu ( máu, chất nhầy…) nhờ chuẩn bị lam bằng máy T2000.
Có thể nói, nhờ có các công cụ chẩn đoán sớm chúng ta hoàn toàn có thể kiểm soát căn bệnh UTCTC nguy hiểm. Mỗi phụ nữ hãy quan tâm hơn đến sức khỏe của mình bằng cách khám phụ khoa và làm xét nghiệm UTCTC định kỳ.


Thứ Năm, 5 tháng 6, 2014

Những điều cần biết về ung thư tiền liệt tuyến

Những điều cần biết về ung thư tiền liệt tuyến
                                    Bác sĩ Đình Kha

Tiền liệt tuyến nằm dưới bọng đái, bàng quang, sau xương mu, trước trực tràng. Nó bao quanh niệu đạo sau. Vai trò chủ yếu là bài tiết tinh dịch giúp nuôi dưỡng và vận chuyển tinh trùng.
1.     Nguyên nhân gây ung thư tiền liệt tuyến
Ung thư tiền liệt tuyến là sự phát triển bất thường và quá mức của những tế bào của tiền liệt tuyến tạo thành ung thư.
Cho đến nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu về nguyên nhân g ây nên bệnh ung thư này nhưng chưa biết đựơc rõ ràng, chỉ biết rằng bướu ác của tiền liệt tuyến, còn được gọi là ung thư, không liên quan gì đến bướu lành của tiền liệt tuyến.
Không có mối liên quan về đặc tính di truyền giữa cha mẹ với con cái
2.     Những đối tựơng nào, những độ tuổi nào dễ mắc phải bệnh này nhất

Độ tuổi trên 50 là độ tuổi thường mắc bệnh này nhất. Tỷ lệ ung thư tiền liệt tuyến tăng lên theo tuổi. Từ 60-69 tuổi, tỷ lệ ung thư tiền liệt tuyến là 30%. Từ 70-79 tuổi tỷ lệ là 40%. Từ 80-89 tuổi, tỷ lệ là 67%.
3.     Những biểu hiện, triệu chứng của bệnh
Ung thư tiền liệt tuyến có một thời gian tiềm ẩn rất dài, có thể từ 5-10 năm không biểu hiện triệu chứng lâm sàng, diễn tiến chậm. Đến khi mà bướu di căn qua những cơ quan khác, nó mới gây triệu chứng.
Các triệu chứng giai đoạn này như rối loạn đi tiểu, chẳng hạn bệnh nhân tiểu khó, tiểu đêm, bí tiểu, với mức độ của tiểu khó ngày càng tăng lên. Ngoài ra, triệu chứng gây chèn ép, chẳng hạn bướu lớn xâm lấn gây chèn ép hai niệu quản, giãn niệu quản, gây ứ nước hai thận. Khi bướu chèn ép hai bên niệu quản thì bệnh nhân có thể bị suy thận, hoặc nó có thể gây chèn ép thần kinh, gây đau lưng, đau thần kinh tọa. Khi nó chèn ép vào trực tràng thì có thể gây nên táo bón hoặc đi đại tiện khó.
4.     Ành hưởng của của ung thư tiền liệt tuyến đến tuồi thọ
So với tất cả những ung thư khác, ung thư tiền liệt tuyến đỡ hơn vì diễn tiến, tiềm tàng của nó rất là chậm, rất lâu. Cho nên mục tiêu phải làm sao phát hiện sớm khi còn ở giai đoạn sớm, điều trị kịp thời thì khả năng tuổi thọ bệnh nhân đựơc kéo dài hơn. Bệnh này khi nó đã di căn, nó cũng đe dọa tính mạng người bệnh từng tháng, từng năm.
5.     Tầm soát, phát hiện bệnh tiền liệt tuyến
Người ta khuyên nam giới trên 50 tuổi nên đi khám định kỳ, thăm khám qua trực tràng để đánh giá bướu như thế nào. Thứ hai, nên đi siêu âm tiền liệt tuyến để xem có dấu hiệu bất thường gì không. Thứ ba, xét nghiệm máu, làm PSA (kháng nguyên chuyên biệt của tiền liệt tuyến). Xét nghiệm cho kết quả bình thường khi PSA có giá trị từ 0-4 nanogram/ml. Khi PSA tăng trên 30 thì tỷ lệ ung thư là 90%. Khi PSA từ 10 đến 20 thì tỷ lệ ung thư là 70%. Khi PSA <10 thì giá trị này tương đối hạn chế nghi ngờ. Nên khám định kỳ mỗi 6 tháng/lần.Khi bệnh phát hiện sớm thì tiên lựơng bệnh rất tốt, thời gian sống kéo dài hơn so với những ung thư khác.
6.      Phương pháp điều trị
Khi bệnh nhân phát hiện sớm có bướu mà chưa có di căn, chưa xâm lấn ra ngoài vỏ bao của tiền liệt tuyến thì phương pháp hàng đầu sử dụng là mổ, cắt trọn tiền liệt tuyến. Có nhiều cách, mổ hở, mổ nội soi, mổ bằng robot.  Khi cắt toàn bộ tiền liệt tuyến, bệnh nhân bất lực, không có con. Sau phẫu thuật có thể có những biến chứng như tiểu không kiểm soát, hẹp chỗ nối niệu đạo.
Ngoài việc cắt bỏ phần hư của tiền liệt tuyến, còn cách  khác nữa là có thể cắt 2 tinh hoàn, dùng nội tiết tố điều trị để khống chế  làm bướu chậ m phá t triề n. . Khi bệnh chư a di căn thì phương pháp tốt nhất vẫn là cắt bỏ toàn bộ tiền liệt tuyến.
Cũng còn có trị  liệu bệnh bằng phương pháp xạ trị liệu , làm bướu teo nhỏ lại. hoặc bằng hóa trị liệu dùng thuốc giống như những loại ung thư khác. Tuy nhiên, hiệu quả của các phương pháp này rất thấp.
7.     Kết luận
Từ 50 tuổi trở lên nên đi khám định kỳ để phát hiện sớm những ung thư khi nó còn tiềm tàng, chưa di căn để kịp thời điều trị.
Khi phát  hiện sớm thì cắt toàn bộ tiền liệt tuyến và khối u. Ngoài ra, cắt tinh hoàn và dùng nội tiết tố điều trị thì có tỷ lệ tái phát trở lại.  Bác sĩ phải theo dõi định kỳ để phát hiện những bướu tái phát. Giai đọan đầu thì theo dõi mỗi tháng. Sau đó, cứ 3 tháng thử lại PSA máu để xem, nếu mức độ PSA tăng lên trở lại thì đây là dấu hiệu tái phát.

Để  ngăn chặn tỷ lệ PSA lên cao  người ta dùng nội tiết tố sinh dục nữ để làm dung hòa nội tiết tố sinh dục nam. Tuần đầu chỉ định dùng 10mg, tức 10 viên. Tuần thứ hai, dùng 5mg, tức 5 viên. Sau đó, dùng 1mg, tương đương 1 viên/ngày liên tục suốt 2 năm.


Cho đến hiện nay, người ta cũng chưa biết đựơc nguyên nhân rõ ràng của ung thư tiền liệt tuyến. Cho nên cũng chưa xác định rõ cách phòng chống ung thư này. Lời khuyên vẫn là khám định kỳ ở những người trên 50 để phát hiện ung thư sớm, điều trị kịp thời thì hiệu quả cao.

Chảy máu cam bất thường – Có thể bị ung thư vòm họng

Chảy máu cam bất thường – Có thể bị ung thư vòm họng


Ung thư vòm họng là gì?

Ung thư vòm họng là bệnh lý xuất hiện các khối u ác tính ở vùng hầu họng mà vị trí của nó là họng trên, tức là phần họng mũi theo cách gọi của các nhà y học. Ung thư vòm họng xuất hiện tại vị trí ngay cửa sau của mũi vì thế mà chúng ta khó có thể nhìn thấy qua gương. Phần như nốt sùi, cục ụ nổi lên ở họng mà chúng ta nhìn thấy qua gương là phần họng miệng. Ung thư vòm họng không bao gồm những vị trí này. Vì thế mà nếu như bạn bảo bạn nhìn thấy khối u của họng qua gương rồi cho rằng ung thư vòm họng thì hoàn toàn không phải. Và bạn cũng lưu ý một điều hết sức quan trọng là không phải mọi khối u ở hầu họng đều là ung thư vòm họng. Phần lớn là khối u rất lành tính.
Ung thư vòm họng gồm 3 loại cơ bản là ung thư biểu mô phủ, ung thư biểu mô tuyến và ung thư dạng lympho. Trong 3 loại trên thì ung thư biểu mô phủ là dạng ung thư hay gặp nhất. Hầu như chiếm tới 90% ung thư vòm họng của người trưởng thành và chiếm tới 35% ung thư vòm họng ở trẻ em.


Có một điều hết sức đặc biệt ở đây là ung thư vòm họng có sự phân bố theo chủng tộc và quốc gia. Chắc có lẽ điều này liên quan đến khí hậu, nước uống và tập quán sinh hoạt. Vì người ta đã thống kê và thấy rằng ung thư vòm họng gặp nhiều nhất ở Singapore và Trung Quốc. Ở các nước có tỷ lệ ung thư vòm họng cao như Singapore thì ung thư vòm họng là ung thư hay gặp hàng thứ 6 ở nam giới trưởng thành, nhất là những người nằm trong độ tuổi từ 35-55. Có lẽ chính thói quen hút thuốc, thói quen ăn mặn và thói quen ăn cay hăng đã ảnh hưởng đến quốc gia này. Mỗi năm có chừng 300-400 người bị bệnh ung thư vòm họng được chẩn đoán mới mắc.
Bệnh nguy hiểm như thế nào?
Ung thư vòm họng không thể là một bệnh có thể coi nhẹ. Đó là vì nó nằm rất gần các cơ quan nhạy cảm đến cảm giác hàng ngày của chúng ta. Nó lại nằm rất gần cơ quan chỉ huy tối cao của cơ thể, não bộ. Vì thế nguy cơ mà chúng xâm chiếm và gây bệnh ở những cơ quan này rất cao.


Nó xuất hiện ở vòm họng nhưng lại có thể gây rắc rối cho mũi của bạn, làm cho bạn cảm thấy khó thở. Nó ở vòm họng nhưng có thể gây vấn đề cho tai, làm cho tai nghe không bình thường. Và đáng ngại nhất là chúng nằm quá gần nền sọ nên chúng dễ dàng xâm nhiễm vào não bộ và gây ung thư nào, làm tổn thương các dây thần kinh sọ não cực kỳ quan trọng.
Ung thư vòm họng nếu để muộn, tỷ lệ chết có thể lên đến 70-80%. Nói tỷ lệ chết ở đây là nói những người không sống quá 1 năm. Khi đó, khối ung thư đã lan đi quá xa, vượt ra khỏi vị trí ranh giới của họng và đi vào các cơ quan khác. Nó có thể đi tới não bộ, mắt, hàm, họng dưới, thực quản, hạch vùng đầu cổ. Và một điều quan ngại khác là sự sống bị ảnh hưởng nghiêm trọng vì những cơ quan phải hoạt động hàng ngay như họng, mũi, thần kinh bị tổn thương nghiêm trọng.


Tuy nhiên, có một may mắn ở đây là nếu được phát hiện và điều trị bài bản thì tỷ lệ sống rất cao. Tỷ lệ sống ở đây là tỷ lệ những người có thời gian sống quá 5 năm. Tỷ lệ này cũng rất cao, có thể đạt được 80%. Việc điều trị và mức độ bệnh quyết định rất lớn đến thời gian sống thêm của nạn nhân. Có người có thể chỉ sống được 5-6 năm, nhưng ngược lại có người có thể sống đàng hoàng thêm 15-20 năm. Quan trọng là phát hiện từ khi còn là mầm nhú và điều trị tuân thủ theo đúng nguyên tắc và lời dặn của bác sỹ.
Chúng ta có thể nhận biết được không?

Riêng với khối ung thư ở nội tạng thì chúng ta khó lòng mà tự nhận biết được nhưng với khối ung thư vòm họng, người bệnh hoàn toàn có thể nhận biết được bệnh của mình. Nó có rất nhiều biểu hiện nhưng tựu trung lại có 4 dấu hiệu gợi ý ung thư vòm họng rất cơ bản. Một triệu chứng thì khó có thể chẩn đoán là ung thư vòm họng nhưng nếu bạn có đầy đủ 3-4 triệu chứng như dưới đây thì cần phải đi kiểm tra ngay lập tức. Bốn dấu hiệu đó là:
Đau họng triền miên
Nếu như bạn là người đau họng triền miên thì hãy hết sức chú ý với bệnh ung thư vòm họng. Đau họng cứ kéo dài từ ngày này qua ngày khác. Điều đáng nói, cảm giác đau không đồng đều. Lúc thì chỉ đau âm ỉ nhưng lúc thì lại đau nhói rất rõ ràng. Khác với cảm giác đau của viêm họng, bạn có một cảm giác đau rát rất rõ ràng. Ung thư vòm họng hiếm khi có cảm giác đau rát.



Một điều cũng dễ nhận ra là đau do viêm họng rất đáp ứng với thuốc kháng sinh và các thuốc khác để điều trị. Nhưng với đau do ung thư vòm họng, việc dùng các thuốc thông thường hầu như không đạt kết quả gì đáng kể.
Nghẹt mũi vô cớ
Dấu hiệu dễ nhận ra nữa là sự nghẹt mũi vô cớ. Bạn không có dấu hiệu chảy mũi, không bị sổ mũi, không bị chảy mũi nhưng lại rất nghẹt thở. Nghẹt thở là vì khối ung thư xuất hiện ở ngay cửa mũi sau và chẹn vào đường thở. Nếu như khối ung thư xuất hiện cách xa đường thở thì chúng ta ít có dấu hiệu này nhưng đa phần là xuất hiện ở ngay cạnh đường thở nên chuyện bít một phần đường thở là hoàn toàn có thể.
Chảy máu cam bất thường
Không bị va đập, không có chấn thương như bạn lại đột ngột bị chảy máu cam, bạn hãy hết sức cẩn thận. Thông thường hiện tượng chảy máu cam chỉ xảy ra khi bạn bị một chấn thương nào đó. Hoặc bạn bị mắc một bệnh cơ thể nào khác như tăng huyết áp, rối loạn đông máu, suy gan thì bạn mới “tự nhiên” chảy máu cam.
Nhưng nếu bạn không bị các nguy cơ này thì bạn cần đề cao cảnh giác. Chảy máu cam trong trường hợp này cũng không giống với các trường hợp thông thường. Chúng ta bị chảy máu ở ngay vùng mạch máu mũi ở trong lỗ mũi. Còn ung thư vòm họng gây chảu máu cam từ cửa mũi sau. Đó là do vỡ mạch máu mũi vì khối ung thư phá huỷ.
Ù tai


Ù tai đó là dấu hiệu của khối ung thư đã chèn lấp và làm phì đại đám bạch huyết vùng cạnh tai, gọi là amidan vòi. Khi khối ung thư lan đến vị trí này thì nó làm cho sự thông thương giữa tai, họng bị cắt đứt. Tai chúng ta tự nhiên bị ù như thể có người bịt tai chúng ta lại và có những âm thanh lạ như vo ve, ù ù. Rất khó chịu.
Lẽ dĩ nhiên, bệnh còn nhiều biểu hiện khác, nhưng đó là những biểu hiện kín đáo và chỉ được phát hiện và thẩm định bởi bác sỹ. Còn về phía bạn, nếu bạn có càng nhiều các triệu chứng trong 4 dấu hiệu ở trên thì cần phải đi khám ngay lập tức.
Phương pháp điều trị?
Điều trị bệnh ung thư vòm họng không quá phức tạp. Hiện nay có 2 biện pháp cơ bản điều trị căn bệnh này là xạ trị và hoá trị liệu. Việc phẫu thuật điều trị ung thư vòm họng ít khi được xem xét. Sự kết hợp xạ trị và hoá trị có thể nâng số nạn nhân sống sót đến 70-80%.
Xạ trị là dùng các tia phóng xạ có cường độ cao và phân bố tập trung chiếu vào khối u. Tia này sẽ làm tổn thương bộ máy sinh học của tế bào ung thư, làm đứt gãy các AND, làm tổn thương màng, làm rối loạn chuyển hoá chất và dẫn đến kết quả cuối cùng là tiêu diệt tế bào ung thư, làm tế bào ung thư bị rối loạn và tổn thương nghiệm trọng và tự chết. Xạ trị có tác dụng tại chỗ làm nhỏ lại khối ung thư, làm bình thường hoá vùng hầu họng và làm xoá bỏ mầm nhú ung thư ở vòm họng. Thời gian điều trị kéo dài từ 1 tuần đến 6 tuần tuỳ theo bệnh nhân


Hoá trị liệu là dùng các hoá chất có độ độc cực mạnh. Những hoá chất này sẽ đi vào máu và đi vào trong tế bào ung thư. Với độ độc cực mạnh, chúng làm chết tế bào ung thư gần như chỉ một thời gian ngắn sau đó. Hoá trị liệu được dùng để làm nhanh chết các tế bào ung thư tại hầu họng và đồng thời tìm diệt các tế bào ung thư vòm họng đang vãng lai trong cơ thể. Điều này giúp xoá bỏ hoàn toàn nguy cơ ung thư vòm họng thứ phát từ những tế bào vãng lai này. Thời gian điều trị kéo dài từ 4-6 tháng. Mỗi tháng chỉ điều trị 1lần, kéo dài 4 ngày. Sau đó là thời gian nghỉ ngơi để cơ thể hồi phục trước khi đợt điều trị tiếp theo tiến hành.
Song cũng giống như các biện pháp điều trị khác, cả xạ trị và hóa trị đều không phải là những biện pháp điều trị chỉ có an toàn. Nó cũng có những tác dụng vô cùng có hại. Diệt được tế bào ung thư chúng ta phải đánh đổi nhiều thứ. Song những tác hại này hoàn toàn có thể giảm thiểu được tuỳ thuộc vào trình độ cơ sở y tế bạn điều trị. Và rất quan trọng, mức chi phí chi trả ch điều trị sẽ càng thấp nếu như bạn phát hiện càng sớm.
Ung thư vòm họng có thể được điều trị tại các bệnh viện có khoa tai mũi họng và có khoa xạ trị ung thư. Đa phần các bệnh viện lớn tại Hà Nội, Huế, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng đều điều trị được bệnh này, không nhất thiết là bệnh viện tai mũi họng trung ương. Điều đó giúp chúng ta có thêm sự lựa chọn tránh khỏi quá tải y tế.


Thứ Tư, 4 tháng 6, 2014

Phương pháp điều trị bệnh ung thư dạ dày.

Phương pháp điều trị bệnh ung thư dạ dày.


Ở Việt Nam, người bệnh thường nhầm lẫn giữa bệnh viêm loét dạy dày và ung thư dạ dày bởi các triệu chứng của chúng gần như nhau như đau thượng vị, khó tiêu, buồn nôn, ợ chua, ăn không ngon… nên nghĩ là không đáng lo ngại
Ở Việt Nam mỗi năm có khoảng 15.000 ca mới được chẩn đoán ung thư dạ dày và hơn 11.000 ca tử vong vì bệnh này. Đây là bệnh ung thư phổ biến hàng thứ 3 trong số 10 loại ung thư nguy hiểm thường gặp tại nước ta. Nam giới có tỉ lệ mắc bệnh cao hơn phụ nữ khoảng 3 lần. Bệnh hay gặp nhất ở tuổi trung niên, tuy nhiên cũng có những người dưới 30 tuổi đã mắc Ở giai đoạn đầu của ung thư dạ dày, người bệnh có thể thấy khó tiêu, nóng rát vùng thượng vị, ăn không thấy ngon miệng. Giai đoạn trung bình họ thường mệt mỏi, cảm giác đầy bụng sau khi ăn... Khi đã vào giai đoạn cuối của ung thư dạy dày, người bệnh sẽ thường xuyên đau bụng, nôn và buồn nôn, đi kèm với rối loạn tiêu hóa, sút cân, nuốt nghẹn, đại tiện ra phân đen (do xuất huyết tiêu hóa)...
Vị trí bị ung thư trên dạ dày
Giáo sư Nguyễn Bá Đức, Phó chủ tịch hội ung thư Việt Nam cho biết: "Đối với ung thư dạ dày, việc phát hiện sớm có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Bệnh nhân mắc ung thư này ở giai đoạn khởi phát chỉ cần phẫu thuật hớt niêm mạc, vẫn giữ nguyên được dạ dày và cơ hội khỏi là rất lớn và việc chữa trị dễ dàng hơn nhiều.
Một trong những yếu tố làm tăng nguy cơ ung thư dạ dày là do nhiễm vi khuẩn Helicobacter Pylori (chiếm khoảng 25-50 số ca mắc bệnh); do chế độ ăn: ăn mặn, các thức ăn có chứa nhiều nitrat, béo phì; do hút thuốc lá, uống rượu... do di truyền từ gia đình, vì thế việc dùng các thực phẩm hàng ngày chú ý các loại thực phẩm đào thải các độc tố giúp ngăn ngừa nguy cơ bị ung thư dạ dày hết sức quan trọng
Giá trị của Nấm linh chi trong việc hỗ trợ điều trị ung thư dạ dày cũng như các bệnh ung thư khác, bệnh cao huyết áp và gan nhiễm mỡ, tiểu đường
Trao đổi với Tiến Sĩ Nguyễn Văn Hiếu, Phó Trưởng Khoa – Khoa Khoa học Trường Đại học Nông Lâm, Giám đốc Dự án Linh Chi Nông Lâm (www.linhchinonglam.com) về giá trị khoa học của Nấm Linh Chi trong việc hỗ trợ điều trị bệnh các bệnh ung thư, Ông cho biết:
"Cấu trúc độc đáo của Nấm Linh Chi chính là thành phần khoáng tố vi lượng đủ loại (119 chất), trong đó một số khoáng tố như Germanium hữu cơ, vanadium, crôm… các hợp chất polysaccharides và triterpenoids... đã được khẳng định là nhân tố quan trọng cho nhiều loại phản ứng chống ung thư, dị ứng, lão hóa, xơ vữa, đông máu nội mạch, giúp điều chỉnh dẫn truyền thần kinh, bảo vệ cấu trúc của nhân tế bào".
Công dụng của Nấm Linh Chi hỗ trợ điều trị hiệu quả các bệnh ung thư trong đó có ung thư dạ dày, suy nhược thần kinh, gan, thận, giảm quá trình lão hóa của cơ thể, Nấm Linh Chi giúp tăng cường hệ thống miễn dịch, nâng đỡ thể trạng bồi bổ cơ thể, đặc biệt thành phần polysarccharides trong Nấm Linh Chi có tác dụng khống chế sự phát triển của các tế bào bất thường (tác nhân gây ung thư, ung bướu) nên Linh Chi còn được sử dụng trong việc điều trị ung thư và hỗ trợ điều trị sau hóa trị, xạ trị..
Quả thể nấm linh chi đỏ Nhật Bản được nuôi trồng nhân tạo
Dùng Nấm Linh Chi bao lâu thì có hiệu quả? Có chắc dùng Nấm Linh Chi sẽ trị được bệnh Ung thư?
Việc này là phụ thuộc vào nhiều loại bệnh ung thư, có những người uống Nấm Linh Chi thì khối U giảm rõ rệt chỉ trong thời gian 1 đến 2 tháng nhưng một số người khác hiệu quả ít hơn. Quá trình phục hồi của người bệnh ung thư nhanh hay chậm tùy thuộc vào từng loại bệnh ưng thư khác nhau cũng như phụ thuộc giai đoạn điều trị và mức độ thích ứng của cơ địa, chữa bệnh ung thư bằng việc uống nước từ nấm linh chi nguyên chất hoặc viên chiết xuất từ nấm linh từ lâu đã được khoa học chứng minh và sử dụng rông rãi trên khắp thế giới, tuy nhiên việc điều trị trị ung thư nên kết hợp với khoa học hiện đại để có kết quả cao nhất và xem Nấm Linh Chi là một phương thuốc hỗ trợ điều trị hiệu quả giúp làm giảm, tiêu diệt khối ung cũng như tăng cường sức đề kháng, đặc biệt những người sau phẩu thuật, hóa trị xạ trị dùng nấm Linh Chi rất tốt , có thể khẳng định rằng việc dùng Nấm Linh Chi có hiệu quả hết sức tích cực, ngay cả những bệnh nhân ở thời kỳ cuối vẫn có hiệu quả tăng cường sức đề kháng giúp kéo dài thời gian sống và tăng mức độ đối kháng với bệnh.
Nấm Linh Chi rất nhiều chủng loại, trong đó Nấm Thượng Hoàng, Nấm Vân chi, Nấm Linh Chi đỏ, Nấm Hầu Thủ là những loại có tỷ lệ ức chế ngăn ngừa khối U hiệu quả rất cao trong đó Nấm Hầu thủ là một trong những loại Nấm hỗ trợ điều trị ung thư dạ dày tốt nhất, các loại Nấm dược liệu này có công dụng giống nhau, chỉ khác nhau chỉ số dược tính, với người có kinh tế trung bình chúng ta có thể sử dụng Nấm Linh chi đỏ Việt Nam cũng có hiệu quả tốt trong việc ngăn ngừa ung thư hoặc hỗ trợ tăng cường sức đề kháng trong quá trình điều trị ung thư rất hiệu nghiệm, giá Nấm Linh Chi đỏ cũng phù hợp với người có điều kiện trung bình muốn dùng để bảo vệ sức khỏe, với 1 kg Nấm Linh Chi có thể dùng 4 đến 6 tháng, chi phí cho việc uống Nấm Linh Chi để bảo vệ sức khỏe là không cao như mọi người thường nghĩ.
Tiến Sĩ Hiếu khuyên nên thường xuyên sử dụng Nấm Linh Chi như một loại thức uống hàng ngày giúp bảo vệ sức khỏe và ngăn ngừa cũng như hỗ trợ điều trị ung thư dạ dày cũng như các loại ung thư, ung bướu khác.